28 thg 9, 2016

Một bài viết của Liễu Trương về Dương Nghiễm Mậu

Vào dịp Dương Nghiễm Mậu qua đời vừa qua, một số bài viết lâu nay chỉ ít người biết về nhà văn đã được in lại, ví dụ bài viết dưới đây của Liễu Trương in lần đầu trên mạng cá nhân của nhà nghiên cứu ngày 1-1-2016 đã được Diễn đàn thế kỷ in lại vào ngày 7-8-2016, trước đó được Da màu in lại vào ngày 3-6-2016. Riêng tôi có quen biết sơ sơ với Liễu Trương đang sống ở Pháp từng thấy bài viết này của chị trên bảng mục lục mà chưa kịp đọc, nay có dịp đọc lại thấy nên tiếp tục công việc của Da màuDiễn đàn thế kỷ, là đưa nó ra với các bạn  cùng mối quan tâm .  Sở dĩ tôi cảm thấy thich thú với bài viết của Liễu Trương trước tiên vì nó đề cập tới chủ đề chiến tranh là điều chúng ta còn phải tìm hiểu nhiều, ngoài ra nó cũng cho thấy tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu có khả năng chấp nhận những cách đọc hiện đại là điều bản thân tôi đã cảm thấy nhưng chưa làm được. Vậy xin giới thiệu với các bạn

DƯƠNG NGHIỄM MẬU VÀ MÊ LỘ CỦA NGƯỜI ANH HÙNG

Dương Nghiễm Mậu đã sớm xuất hiện trên văn đàn miền Nam, với những truyện :Cũng đành Gia tài người mẹ ra năm 1963. Năm 1966, Dương Nghiễm Mậu được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc với tác phẩm Gia tài người mẹ. Sau hai tác phẩm vừa kể, tác giả không ngừng sáng tác; tính đến năm 1972 Dương Nghiễm Mậu đã có khoảng 20 tác phẩm. Đọc truyện của ông, người đọc có thể nhận thấy những tìm tòi về nghệ thuật dựng truyện, những cố gắng ra khỏi đường mòn khuôn sáo, truyện dài Con sâu xuất bản năm 1971 là một bằng chứng. Ngoài những truyện dài, Dương Nghiễm Mậu còn là tác giả của những tập truyện ngắn như : Kinh cầu nguyện (1967), Quê người (1972), v.v… Trong số những truyện ngắn của ông đăng trên tạp chí Văn, năm 1972, có một truyện mang tựa đề : Chuyến trở về sau cùng (Giai phẩm Văn 1972), rất đáng được chú ý, vì ngoài cách đọc thông thường truyện còn gợi một cách đọc khác : cách đọc theo biểu tượng, khiến chiều kích của truyện được mở rộng để đạt đến những khái niệm bất ngờ.

Vào thời quê hương chìm ngập trong khói lửa, làm sao văn chương đừng phản ánh thảm họa chiến tranh? Cũng như vô số truyện của các tác giả miền Nam, Chuyến trở về sau cùng bắt nguồn từ chiến tranh. Truyện kể việc đưa quan tài một người lính tử trận về cho gia đình. Một người lính trẻ, sau một cuộc phục kích, trên đường về bị trúng đạn chết. Lẽ ra một tiểu đội phải đưa tiễn kẻ xấu số về với gia đình, nhưng tình hình thiếu an ninh nên chỉ có một người tài xế và một người lính làm nhiệm vụ này. Sau nghi lễ nhập quan, lính trong tiểu khu đi tìm hoa, bất cứ hoa gì, hoa dại, hoa vạn thọ, hoa giấy… để kết một vòng hoa, cái khung được làm bằng giây kẽm gai. Quan tài được đặt giữa lòng xe, có lá quốc kỳ phủ lên, một ống bơ dùng làm bình nhan. Người lính đội mũ sắt, tay cầm súng, ngồi gác bên cạnh. Từ trên cao nguyên, xe chạy theo quốc lộ về thành phố và phải qua nhiều trạm kiểm soát, đến mỗi trạm, người tài xế phải xuống xe, trình giấy tờ. Đi được hai phần ba đường thì xe đến một tiểu khu. Trời bắt đầu tối, người tài xế xin phép đậu xe để nghỉ đêm. Sáng hôm sau, người tài xế dậy trước, di rửa mặt và trở lại xe gọi bạn thức dậy, người lính nhảy xuống xe, cái quần vướng vào vòng hoa và vòng hoa rơi xuống đường, hoa bắt đầu héo,người lính nhặt vòng hoa và đặt lại trên xe. Hai người vào câu lạc bộ ăn sáng, khi trở ra chiếc xe biến mất, họ đâm lo lắng, mới hay chiếc xe bị kéo ra sau tiểu khu, vì có một nhân vật quan trọng sắp đến. Rồi họ tiếp tục cuộc hành trình. Xe chạy dọc con đường lớn của tỉnh lỵ, tới đầu quốc lộ, tiếp tục chạy, rồi ngừng lại một trạm kiểm soát, rồi chạy giữa rừng cao su, qua một cây cầu xi măng. Vòng hoa trên xe héo rũ trơ ra cái vòng kẽm gai, người lính vứt vòng hoa xuống đường. Xe chạy nhanh trên quốc lộ, vì người tài xế muốn làm xong nhiệm vụ sớm, cả người tài xế và người lính đều cảm thấy mỏi mệt. Khi đứng trưa, xe vào tới thị trấn, dừng lại, người tài xế ghé đồn quân cảnh trình giấy tờ, gửi xe, rồi hai người đi ăn trưa. Nắng tóe lửa. Trong cuộc đối thoại giữa hai người, người lính tỏ vẻ ái ngại, sợ xác chết trong quan tài phình lên. Người tài xế trái lại không có vẻ gì lo lắng, anh ta đã thấy nhiều cảnh khủng khiếp, xác chết đã sình lên, chảy nước, thế mà người thân vẫn ôm lấy mà khóc; theo anh ta, người lính trẻ này có phúc: Một mình một ngựa trở về thảnh thơi (tr. 59). Người tài xế không muốn đem tin dữ đến với gia đình, anh ta gọi đó là vai trò tử thần. Xe ra khỏi đồn cảnh binh, chạy vào đường phố. Hai người bắt đầu tìm đường. Xe đến ngã tư thứ nhất, rồi qua khu nghĩa địa. Đến khu dân cư, tưởngđã đến nơi, nhưng phải đi tới một ngõ lớn. Đến nơi xe ngừng, đúng là ấp Tây nhứt ghi trên giấy tờ. Đầu ngõ có cái quán, người trong quán cho biết không phải hẻm này. Khi đến đúng con hẻm 131/32, xe chạy vào trong hẻm. Tìm đúng số nhà, nhưng hỏi ra mới biết gia đình thân nhân của người lính chết đã dọn đi nơi khác, không để lại địa chỉ.

Người tài xế và người lính nản lòng, lúng túng không biết phải làm sao. Truyện đến đây chấm dứt.

Truyện xảy ra trong những không gian tiếp nối nhau. Tác giả miêu tả cuộc hành trình từ trên cao nguyên về đến thành phố một cách tỉ mỉ như một cuốn phim quay chậm. Người đọc có cảm tưởng thời gian chậm lại qua nhiều chặng đường, nhiều trạm kiểm soát, qua sự mệt mỏi của người tài xế và người lính phải ngủ dọc đường, phảiăn sáng, ăn trưa trong cái nóng hừng hực và bụi bặm. Khi đến thành phố cũng chưa xong, còn phải cho xe chạy ngoằn ngoèo một lúc, rồi khi đến đúng cái ấp Tây nhứt cũng vẫn chưa xong, còn phải bỏ con hẻm thứ nhất để đến con hẻm thứ hai mới đếnđúng số nhà, đúng số nhà nhưng không đúng gia đình, một lần nữa người tài xế vàngười lính vẫn không đạt đến mục tiêu.

Cuốn phim được quay chậm cũng để người đọc thấy phản ứng của mọi người trong khu dân cư. Trong cái quán đầu ngõ hẻm thứ nhất, khi thấy chiếc xe chở quan tài dừng lại và người tài xế xuống xe cầm giấy hỏi thăm, thì mọi người bỗng im bặt, hồi hộp, lo sợ, tự hỏi con ai đây. Rồi khi biết là xe đi lầm ngõ thì họ thở phào nhẹ nhõm, tiếng nói, tiếng cười lại vang lên, nhưng họ vẫn tỏ ra xót xa cho gia đình nào đó đã có con chết. Qua ngõ hẻm thứ hai cũng có nhiều người đứng hai bên ngõ im lặng theo dõi, Trong ngôi nhà mang đúng con số đã ghi trên giấy, một người đàn bà và một cô gái chạy ra thất thần, sắp òa lên khóc, tưởng người ta đem xác con trai mình, em mình về. Nhưng khi biết có sự lầm lẫn với gia đình người xấu số đã dọn đi nơi khác, họ như thoát nạn. Hình ảnh như được phóng lớn cho thấy nỗi lo sợ của mọi người : những người có con em đang chiến đấu ngoài mặt trận cũng như những người tuy không có người thân đang vào sinh ra tử, nhưng đầy lòng trắc ẩn.

Truyện tác giả kể phản ánh hiện thực với những sự kiện cụ thể, quá quen thuộc đối với những người đã từng sống vào thời đó.

Mặt khác, truyện Chuyến trở về sau cùng hàm nhiều ẩn nghĩa, vì như chúng ta biết, một tác phẩm, một văn bản có thể được giải thích bằng nhiều cách, vì lẽ tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tác phẩm mở.

Vậy có thể đọc truyện này ở một mức độ khác : mức độ biểu tượng. Nhưng trước hết biểu tượng là gì ? Theo tự điển Dictionnaire des termes littéraires (Nxb Honoré Champion, Paris, 2005), thì khi người ta nói đến biểu tượng, người ta nghĩ đến sự liên hệ gián tiếp nối liền một hình tượng (một đồ vật, một hành động, một cử chỉ…) với một ý tưởng hay một khái niệm. Lắm khi sự liên hệ đó căn cứ vào một hoán dụ, ví dụ: cái vương trượng để chỉ vương quyền, hay căn cứ vào một ẩn dụ, ví dụ: hoa huệ được dùng để chỉ sự trong trắng. Sự liên hệ giữa cái biểu tượng và cái nó dẫn đến thuộc tính gợi cảm hơn là tính hợp lý. Còn theo tự điển Le Dictionnaire du Littéraire (Nxb PUF, 2002), thì biểu tượng không thể tách biệt với đời sống con người, với sự thấu hiểu về thế giới. Biểu tượng khiến sự lưu truyền quá khứ có tính truyền thuyết được thêm vững chắc và khiến những truyền thống (tín ngưỡng, nghi lễ, cách xử sự) trở nên chính đáng. Như thế biểu tượng làm cho sự kết hợp chặt chẽ của một cộng đồng được lâu bền.

Ngoài ra, biểu tượng nuôi dưỡng văn chương và phong phú hóa văn chương.

Trong bài tựa cho cuốn sách phê bình: Jean-Jacques Rousseau, la transparence et l’obstacle (Jean-Jacques Rousseau, sự trong suốt và sự cản trở), nhà phê bình văn học nổi tiếng Jean Starobinski muốn làm mới cách đọc một văn bản bằng cách đưa lên hàng đầu giá trị của biểu tượng, ông viết : « Ngược lại với một lối phê bình có tính ép buộc, áp đặt từ bên ngoài những giá trị, thứ tự và những xếp đặt đã định sẵn của nó, chúng tôi thích có một lối đọc chỉ cố gắng phát hiện sự thứ tự hay vô thứ tự bên trong của văn bản mà lối đọc đó tra vấn, cố gắng phát hiện những biểu tượng và những ý tưởng theo đó tư duy của nhà văn được sắp đặt ».

Nhiều lý do cho phép đọc truyện Chuyến trở về sau cùng theo biểu tượng. Trước hết các nhân vật trong truyện không có tên riêng, chỉ được chỉ định theo chức vụ: người tài xế, người lính, và nhân vật chính, trọng tâm của truyện, là người lính trẻ chết nằm trong quan tài cũng không có tên. Thứ đến không có địa danh của các nơi, chỉ biết chiếc xe khởi hành từ trên cao nguyên, nhưng ở địa điểm nào ? Cao nguyên, quốc lộ, rừng cao su, tỉnh lỵ, thành phố, tất cả tạo nên một không gian có tính phổ quát. Vậy trong truyện không có sự chỉ định rõ ràng về nhân vật và nơi chốn khiến cho chiều kích truyện có thể được mở rộng, để đạt đến chiều kích của dân tộc, của đất nước. Dương Nghiễm Mậu viết : Có gia đình nào ngày nay không có con em trong quân đội ? Có gia đình nào trong suốt mười năm nay không có những cái tang đau đớn ? (tr.62) Người tài xế nói : Thằng này chết vậy là có phúc lắm. Một mình một ngựa trở về thảnh thơi. Có thể nói tất cả những người trai trẻ đã bỏ mình trong cuộc chiến đều được người lính vô danh nằm trong quan tài đại diện, vô số anh hùng đều được gom lại thành một người anh hùng. Vậy người chết trong quan tài có một giá trị biểu tượng. Cái vòng hoa cũng là một biểu tượng. Vòng hoa rơi xuống đất hai lần, lần đầu khi người lính thức dậy, nhảy xuống xe để đi rửa mặt, vòng hoa vướng vào quần anh ta và rơi xuống đất ; lần thứ hai khi xe đang chạy, người lính thấy hoa đã héo úa nên vứt vòng hoa xuống đường. Thông thường vòng hoa là dấu hiệu của sự tôn vinh, sự ca ngợi, chẳng hạn vòng hoa được đặt trước một đài kỷ niệm, trong những dịp lễ tưởng niệm ; nhưng trong trường hợp này, vòng hoa có vẻ thảm thương, xơ xác, giây kẽm gai biểu tượng cho hoàn cảnh gian nan, nguy khốn của người lính, những cánh hoa dại chóng tàn biểu tượng cho sự mong manh, ngắn hạn của mạng sống người lính. Vòng hoa đồng hành với quan tài trên một đoạn đường rồi héo rũ, không còn xứng đáng với người lính nằm trong quan tài, vì người lính đã được thanh cao hóa để trở nên người anh hùng của dân tộc.

Lá quốc kỳ có giá trị biểu tượng lớn nhất, đó là biểu tượng của Tổ quốc. Trong truyện, sự hiện diện của lá quốc kỳ được nhắc đến năm lần :

Người tài xế kéo ngay lại lá quốc kỳ xô lệch trên cỗ quan tài… (tr. 54)

Nắng sáng trên lá quốc kỳ… (tr. 57)

Gió thổi mạnh làm mép lá quốc kỳ tung bay… (tr. 57)

Người tài xế xuống xe, đóng cửa lại, anh ta đi về phía sau nhìn màu lá quốc kỳ rực rỡ dưới nắng. (tr. 60)

Trong con ngõ hẻm chưa lúc nào đông người như lúc đó, họ tụm lại bàn tán với nhau, có người tới gần xe nhìn lên cỗ quan tài phủ lá quốc kỳ với màu sắc rực rỡ. (tr. 63)

Lá quốc kỳ phủ lên quan tài là cử chỉ người mẹ ôm lấy đứa con, mẹ Tổ quốc ôm con,đưa con về xứ mẹ.

Con đường từ trên cao nguyên về đến thành phố là một con đường quá dài, đầy gay go, như một mê lộ. Trong thần thoại Hy lạp, mê lộ là những con đường chằng chịt tréo nhau do Dédale xây cất theo lệnh của vua Minos để giam giữ con quái vật Minautore thích ăn thịt người. Những con đường chằng chịt đó khó cho con quái vật thoát ra ngoài.

Tự điển Dictionnaire des Symboles (Nxb Robert Laffont, 1982) định nghĩa mê lộ như những con đường chằng chịt bắt tréo nhau mà một số không có ngõ ra, biến thành ngõ cụt. Qua những con đường đó phải tìm cho ra cái con đường đưa đến trung tâm. Mê lộ là biểu tượng của một hệ thống phòng thủ, mê lộ báo hiệu sự hiện diện của một cái gì quý báu hay thiêng liêng. Mê lộ có thể có một chức năng quân sự để bảo vệ một lãnh thổ, hay một chức năng tôn giáo chống lại những tấn công của điều ác. Trung tâm của mê lộ được gìn giữ và dành cho người được khai tâm, người đã vượt mọi khó khăn qua những chặng đường vòng trong mê lộ, xứng đáng đạt đến sự thần khải mầu nhiệm, xứng đáng được thừa nhận là người được khai tâm.

Mê lộ trong Chuyến trở về sau cùng là một con đường dài thăm thẳm và ngoằn ngoèo, đầy gian nan, thử thách. Mê lộ có những ngõ cụt; như đã nói, có một lúc chiếc xe chở quan tài bị lạc mất ở tiểu khu, người tài xế và người lính ngỡ chiếc xeđã bị mất cắp, trong khi họ đi ăn sáng, sự thật xe đã bị đưa vào một ngõ cụt ; và các con hẻm trong khu dân cư cũng là những ngõ cụt. Quan tài của người anh hùng phảiđi hết mê lộ mới đến đích. Sở dĩ người tài xế và người lính không tìm ra được địa chỉ của gia đình là vì người anh hùng không còn thuộc về một gia đình riêng tư nào nữa, người anh hùng thuộc về dân tộc, người anh hùng đang đi về Tổ quốc ở cuối mê lộ, ở đấy người anh hùng sẽ được Tổ quốc trao cho ánh hào quang để sống mãi trong lòng dân tộc.

Hiếm khi một văn bản có đưọc hai cách đọc song song như thế, hai lưới đọc, nói theo giới phê bình Pháp. Trong truyện Chuyến trở về sau cùng của Dương Nghiễm Mậu hiển ngôn và ẩn ngôn chồng lên nhau tạo nên tính đa nghĩa, mở rộng chiều kích của văn bản và đưa đến một hệ thống biểu tượng.

1/Đọc nguyên bản ở đường link
https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/2016/01/01/duong-nghiem-mau-va-me-lo-cua-nguoi-anh-hung-2/

2/ Mời đọc thêm một bài viết của tôi  có nhắc tới  các trích đoạn văn học viết về chiến tranh và có dẫn Dương Nghiễm Mậu, bài viết hai kỳ này  vốn có cái tên dài dòng Mấy  trích  đoạn văn học viết về chiến tranh dùng làm bài giảng văn in trong các sách giáo khoa trung học ở miền Nam thời kỳ 1954-75
 đường link
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2016/04/may-trich-oan-van-hoc-viet-ve-chien.html


Đọc tiếp ...

24 thg 9, 2016

Cô đơn và nhập cuộc kiểu Dương Nghiễm Mậu

  Một cách sống chừng mực giữa các đồng nghiệp
 Với tư cách một người  cả đời sống trong không khí văn nghệ Hà Nội, tôi hay nhìn sinh hoạt văn nghệ SG trước 1975 giống như là khung cảnh chung của đời sống chính chúng tôi. Ở đó có nhóm nọ nhóm kia, có sếp sòng chỉ huy, có đám đông vừa ù lì vừa nhạy cảm, có những người cùng ý chí, cùng hướng tìm tòi sáng tạo, tất cả quen biết nhau và làm việc trong sự hiệp đồng với nhau, tuy bên trong cũng đầy những ghen ghét lẫn đố kỵ. Với cái nhìn ấy tôi thường chú ý đến nhóm Sáng Tạo và các cây bút di cư sau 1954, chú ý tới tạp chí  Bách Khoa, các tạp chí Văn, hoặc sau này mấy tờ Khởi Hành, Vấn Đề…

Đọc tiếp ...

21 thg 9, 2016

Thêm mấy đoạn ghi từ báo chí văn nghệ Sài Gòn trước 1975 về Dương Nghiễm Mậu

1/ Về bức ảnh Trần Cao Lĩnh Chụp Dương Nghiễm Mậu, nhà nhiếp ảnh (hay là một người có biết việc này) kể lúc đầu bối cảnh là một hành lang dài tối tăm có những khung cửa tò vò sau thì đổi thành một đồng hồ treo trên tường.
Đồng hồ đủ chữ số nhưng hai cây kim lại rớt xuống, buộc lủng lẳng bằng một sợi dây…
Và Dương Nghiễm Mậu thì tủm tỉm cười nghĩ đến thời gian kỳ quái trên chiếc đồng hồ kỳ quái. (Trong số ảnh Trần Cao Lĩnh chụp còn có ảnh Vũ Hạnh - ông này tươi cười dưới một họa phẩm cháy tiêu hết chỉ còn một cái khung.)




Đọc tiếp ...

19 thg 9, 2016

Dương Nghiễm Mậu: Lời bạt viết ở cuối tập Nhã Ca Mới 1964


Tôi lưu giữ bài viết sau đây của Dương Nghiễm Mậu và thường đọc lại, vì ở đó tìm thấy nhiều thứ: tuổi trẻ của nhà văn, những ngày mới chuyển từ Hà Nội qua Huế vào Sài Gòn; mối giao tình gắn bó giữa ông và vợ chồng nhà thơ tác giả Nhã Ca Mới, cảnh gieo neo của lớp trí thức trẻ những năm sau 1954. Trong khi viết về một hiện tượng văn chương gần gũi, người viết cũng tìm thấy một cơ hội để nói những quan niệm nhân sinh chi phối ông, mối quan hệ giữa thế hệ ông với thời cuộc.
 Văn Dương Nghiễm Mậu vốn có cái giọng rất lạ, nó phản chiếu hình ảnh một con người luôn đau đớn bất mãn, trong khi bắt buộc phải chấp nhận đầu hàng cuộc sống thì lại giữ nguyên cho mình cái bất khuất chống lại đời sống đến cùng. Và cả cách viết cách đưa tài liệu tiểu sử riêng ẩn hiện giữa những câu ngắn, đứt nối nữa - nó khiến cho thứ văn xuôi này tự nó như có nhiều bình diện còn những chi tiết tưởng như lạc lõng thì lại như mời gọi người đọc hãy tìm hiểu thêm ở ngoài văn bản. Viết bạt cho người mà Dương Nghiễm Mậu cũng viết cho mình.

Đọc tiếp ...

11 thg 9, 2016

Nguyễn Huy Thiệp và việc "đưa khái niệm nhà văn trở về với mặt đất"

 Đọc tập phê bình-tiểu luận Giăng lưới bắt chim của Nguyễn Huy Thiệp .

 “Một người sáng tác phải coi lý luận phê bình như sự tự ý thức của anh ta”, Nguyễn Huy Thiệp từng tự nhủ như vậy và đã làm như vậy. Dù rằng cái phần tự ý thức của tác giả còn nhiều lầm lẫn và nói chung còn là chật hẹp so với lý luận như nó phải có, song một số bài viết in trong "Giăng lưới bắt chim" có góp phần thức tỉnh nhiều người: đối với văn học mà chúng ta tưởng đã quá quen, đã đến lúc cần phải nghĩ khác.

Đọc tiếp ...

7 thg 9, 2016

Thử tìm cách lý giải tình hình sử học hiện thời

LỜI DẪN
Trên FB hôm nay 6-9-2015 tôi vừa có bài viết ngắn có liên quan tới sử học và lịch sử. Nhân tình hình nhức nhối trong giới quan chức, tôi đặt vấn đề phải trở lại với lịch sử VN để hiểu mọi chuyện xảy ra trước mắt.

Đọc tiếp ...

5 thg 9, 2016

Về cách miêu tả hoa sen và lý do để yêu hoa


I/
Bài viết sau đây được anh Trần Đình Sử đưa ra trên FB của mình ngày 30-8 :
KHUYẾT ĐIỂM CỦA BÀI THƠ TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN

Đọc tiếp ...

4 thg 9, 2016

Giữ cho học sinh cảm giác thiêng liêng của ngày khai giảng


Nhân ngày khai giảng, bạn Quý Hiên ở báo Thanh niên đã gợi ý để tôi có dịp suy nghĩ về một số vấn đề giáo dục hiện nay. Một phần bài trả lời phỏng vấn này đã đưa trên báo.
 Sau đây là bản đầy đủ.
Những suy nghĩ trong bài này bắt nguồn từ bài viết của tôi Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc  đưa trên blog này ngày 10-12-2014. Hy vọng rằng nhân ngày khai giảng bài viết cũ của tôi có thêm những bạn đọc mới. 

Đọc tiếp ...

17 thg 8, 2016

Một ít chuyện bên lề liên quan tới "Chân dung nhà văn": phần hai -- về chính Xuân Sách

Sự hình thành một huyền thoại mới
Từ quá trình sáng tác của Xuân Sách, tôi đã thử liên hệ với đời sống văn nghệ, những mẫu người viết một thời. Nhưng bản thân số phận người viết Xuân Sách cũng là một nhân vật mà tôi muốn kể tiếp. Sau đây là một ít chuyện vặt và những suy nghĩ rút ra từ đó.
Ngoài thơ tứ tuyệt các nhà văn cũng thường cũng “chơi" nhau bằng câu đối. Tôi nhặt ra mấy câu tạm gọi là tiêu biểu.

Đọc tiếp ...

16 thg 8, 2016

Một ít chuyện bên lề liên quan tới "Chân dung nhà văn" của Xuân Sách - phần một

Nguyên là bài XUÂN SÁCH hay là một đặc sản văn chương , đã in trên blog này 21-4-2009.  Chúng tôi tách ra làm hai kỳ để bạn đọc dễ theo dõi 

Đọc tiếp ...

12 thg 8, 2016

Thư Xuân Quỳnh viết khi đi thực tế ở Quảng Bình Vĩnh Linh 1969 ( phần cuối)

25/10/1969
Nhàn thân mến,
Hôm nay anh Phạm Tường Hạnh ở ngoài ấy vào. Anh ấy bảo anh cũng đi Vĩnh Linh. Thế là tôi đi cùng với anh ấy luôn. (Hôm nay may quá! Vì về Hội lấy thư nên gặp anh ấy).
Thế là có người cùng đi.

Đọc tiếp ...

10 thg 8, 2016

Thư Xuân Quỳnh viết khi đi thực tế ở Quảng Bình, Vĩnh Linh 1969 ( phần đầu)


Mấy năm đầu chiến tranh, một việc  thường trực của nhà văn là đi thực tế. Với cánh nhà văn quân đội, chúng tôi có thuận lợi là kiếm xe rất dễ, đâu cũng có thể nhờ. Với các nhà văn bên Hội, khó hơn nhiều. Như trường hợp Xuân Quỳnh. Trong hai năm 1969-70, chị đã có hai chuyến đi dài vào Quảng Bình Vĩnh Linh  mỗi chuyến khoảng hai tháng, mang theo cả xe đạp để vào đến tỉnh thì còn xuống xã, sự vất vả như thế nào thì sau đây bạn đọc sẽ thấy. Tôi có may mắn là được Quỳnh khi đi viết thư về kể khá kỹ về các chuyến đi này. Hôm nay chép lại, không phải chỉ là để cùng các bạn đồng nghiệp ôn lại cuộc sống một thời khi chúng tôi còn rất trẻ  mà còn muốn các bạn trẻ hôm nay đọc vào sẽ  hiểu thêm về  những năm tháng xa xôi ấy. Hơn bốn mươi năm đã qua, nhưng tôi luôn  có cảm tưởng  cuộc chiến tranh vẫn chi phối cách sống và cách nghĩ của chúng ta.

Đọc tiếp ...

3 thg 8, 2016

Nhật ký văn nghệ 1969 (VIII)

THỦ TƯỚNG GẶP CÁC NHÀ VĂN NGHỆ TRẺ
Vừa thấy tổ chức một buổi để  Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp một số anh em làm văn nghệ trẻ. Chu, Vũ, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt được đưa vào ban trù bị. Ra những lần gặp trước của TVP là để chuẩn bị  cho buổi họp này.

Đọc tiếp ...

1 thg 8, 2016

Nhật ký văn nghệ 1969 (VII)

LỚP TRẺ TỰ NÓI VỀ MÌNH
Qua những buổi nói chuyện với các bạn, ngày một thấy vỡ ra thêm những vấn đề chính của cuộc sống hiện nay. Đùa bỡn qua đi rất nhanh, loanh quanh một lúc rồi lại trở về chuyện chính trị, xã hội. Chúng tôi luôn luôn phải nói rằng mình cũng tốt, cũng đứng đắn, cũng còn tử tế hơn khối thằng. Nói thế, để tự an ủi mình, để yên tâm mà làm việc.

Đọc tiếp ...

27 thg 7, 2016

Tú Mỡ và tiếng cười của một thời đã xa

 Lời dẫn cho hai bài viết cũ về Tú Mỡ
Các tài liệu văn học sử đều ghi Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, sinh 14-3-1900, mất 13-7-1976, nhà thơ trào phúng có chân trong Tự Lực văn đoàn; tác phẩm chính: Dòng nước ngược (1934), Nụ cười kháng chiến (1952), Bút chiến đấu (1960), Ông và cháu (1970)...

 Có nhiều cách để phân chia  các thời kỳ của xã hội VN từ đầu thế kỷ XX trở đi.
Nhiều người chia theo các tên gọi như thời tiền chiến, thời  chiến tranh 1945, thời hậu chiến sau 1975.
Tôi thì chỉ thấy có hai giai đoạn, 
một là giai đoạn từ 1975 về trước, tuy tên gọi về mặt xã hội chính trị có khác, song đó là giai đoạn của những ổn định, kể cả trong chiến tranh cũng ổn định
hai là giai đoạn từ 1975 tới nay, khi mọi sự hài hòa bị phá vỡ. 
Tú Mỡ thuộc hẳn về cái giai đoạn thứ nhất vừa nói ở trên. Ông lấy  bút danh là Tú Mỡ, là để nhại theo Tú Xương. 
Chúng ta ngày nay gần với tiếng cười hằn học hận đời Tú Xương hơn là tiếng cười  đôn hậu của Tú Mỡ
Tuy vậy thỉnh thoảng trở lại với thơ ông cũng là một cách để chúng ta  hiểu rằng dù sống ở thời đã khác, tiếng khóc câu cười của chúng ta ngày nay đã khác với các thế hệ tiền bối song nếu bình tĩnh đọc lại vẫn có thể được làm giàu thêm bởi những bài học nhân bản.

Đọc tiếp ...

21 thg 7, 2016

Nhật ký văn nghệ 1969 (VI)

 NGƯỜI TRÍ THỨC CỦA LỚP TRẺ?
Bằng Việt gặp tôi lúc đầu đã có những vấp váp. Mà là lỗi tại tôi, ai đời cứ tô hô lên “muốn trao đổi lý luận về thơ ca”. Bằng ghét, cho rằng tôi có phần đắp thêm vào cái mình không có. Phải một buổi đi nói chuyện dưới cơn mưa nhẹ mới xong.

Đọc tiếp ...

18 thg 7, 2016

Nhật ký văn nghệ 1969 (V)

BUỔI ĐẦU GẶP VŨ
Hồi tết Lưu Quang Vũ phải theo đơn vị đi biểu diễn, rồi trở về, nằm viện. Anh em đến thăm đông đủ. Tất cả đều quý Vũ. Riêng Quỳnh nói với tôi mấy ý:

Đọc tiếp ...

16 thg 7, 2016

Con người Thạch Lam


Bài này lúc đầu ở dạng tài liệu và lẽ ra phải có tiêu đề Một ít tài liệu về Thạch Lam (2) tiếp theo phần (1) đã đưa ngày 6-7-2016.
Nhưng trong quá trình làm việc, tôi thấy như thế không đủ; phải thêm vào các tài liệu “mộc” một ít suy nghĩ của mình. Những bài tôi viết về trước là nghiêng về tác phẩm nhà văn(xem Phụ lục). Nay muốn đưa ra cách hình dung ra con người Thạch Lam, tạm ghép lại như sau.

Đọc tiếp ...

6 thg 7, 2016

Một ít tài liệu về Thạch Lam (1)


Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) có lẽ là nhà văn thành công nhất trong việc tổ chức công việc cho cả cuộc đời. Số lượng trang viết dồi dào ở ông  đi liền với khả năng tập trung vào những đề tài chọn lọc cùng là khả năng đi tới cùng của các dự định.

Đọc tiếp ...

5 thg 7, 2016

Nguyễn Tường Giang: Cái ấm đất và bộ chén trà Nguyễn Tuân tặng Thạch Lam

Bài viết sau đây là của người con trai thứ hai trong gia đình Thạch Lam và sinh mấy ngày trước khi ông qua đờì. Bài được viết cuối năm 2013 và lần đầu in trên Giai Phẩm Xuân Người Việt, Giáp Ngọ 2014.

Đọc tiếp ...